Cây chè dây hay còn gọi là cây trà dây vốn là cây mọc hoang, tự nhiên trong rừng sâu, chúng thường phát triển trên các triền núi, được xem là một trong những cây thuốc quý có khả năng chữa được nhiều bệnh mà không phải ai cũng biết.

Cây chè dây và công dụng chữa bệnh

Cây chè dây hay còn gọi là cây trà dây vốn là cây mọc hoang, tự nhiên trong rừng sâu, chúng thường phát triển trên các triền núi, được xem là một trong những cây thuốc quý có khả năng chữa được nhiều bệnh mà không phải ai cũng biết. Để tìm hiểu rõ hơn về cây chè dây cũng như các tác dụng trị bệnh của cây chè dây, bạn đọc nên tham khảo ngay những thông tin trong bài viết dưới đây.

Tên gọi và đặc điểm của cây chè dây:

Cây chè dây còn được gọi là cây trà dây, thực tế thì tên gọi này còn phân theo từng vùng miền, người miền Bắc thường gọi là chè dây còn người miền Nam quen gọi là trà dây, người dân tộc Tày gọi là Khau Rả còn dân tộc Nùng gọi là Thau Rả, ngoài ra còn có nhiều tên khác nhau như chè hoàng gia hoặc cây song nho Quảng Đông…

Cây chè dây có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis, là một loại thực vật họ nho được phát hiện ra vào năm 1853 bởi nhà khoa học K.Koch. Loài thảo dược quý này phân bố nhiều ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Riêng tại Việt Nam thì chè dây mọc nhiều ở các tỉnh khu vực miền núi phía bắc như Lào Cai, Lai Châu, Tuyên Quang…cây cũng được tìm thấy ở một số tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa hay Quảng Trị, Quảng Ngãi…

Chè dây là cây dây leo, chúng thường phát triển bò sát mặt đất hoặc bám vào thân của các cây khác, cành có hình trụ mảnh, thân non có màu xanh còn khi già thân có màu nâu, có nhiều tua cuốn đối diện với lá, chia làm 2-3 nhánh. Lá trà dây có 2 lần kép, gồm 7-12 lá chét, mép lá có răng cưa, lá đi kèm tròn dạng vẩy. Trà dây có hoa, hoa mọc thành cụmđối diện với lá có 3-4 nhánh; nụ hoa có hình trứng, cây thường ra hoa vào thàng 6 và có quả tháng 10. Qủa mọng, hình trái xoan, có màu đen, bên trong có hạt.

Cay Che Day

Công dụng chữa bệnh của cây chè dây:

Cả y học cổ truyền lẫn y học hiện đại đều chứng minh và đưa ra nhận định rằng tất cả các bộ phận của cây chè dây đều có tác dụng chữa bệnh, trong đó thường dùng nhất là lá và cành của cây chè dây. Theo Đông y thì chè dây là cây có tính mát, có vị ngọt hơi đắng, có tác dụng giải độc mạnh, chống viêm tốt, giúp giải nhiệt, tiêu độc mà không gây ra tác dụng phụ đối với cơ thể, đặc biệt người dân tộc miền núi còn thường xuyên vào rừng hái lá trà dây về sắc nước uống hàng ngày, giúp ăn ngon và ngủ tốt hơn.

Theo các nghiên cứu khoa học đã chứng minh được rằng thành phần hóa học của cây chè dây có chứa nhiều chất như flavonoid, tanin, myricetin, có thêm hai loại đường nữa là  Glucase và Rhamnese. Đặc biệt trong đó là hàm lượng hợp chất flavonoid và tanin cao có tác dụng kháng khuẩn cũng như chống oxy hóa cực mạnh. Cũng với hoạt chất này thì chè dây được biết đến là cây thuốc nổi bật với khả năng giảm đau, liền sẹo nhanh, diệt khuẩn tốt, điều trị hiệu quả các bệnh về dạ dày, nhất là viêm dạ dày, đau dạ dày, viêm loét dạ dày, viêm hang vị…

Các nhà khoa học tại Viện Dược liệu Trung ương đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cây chè dây, thậm chí chè dây còn được đưa vào áp dụng thực tiến cho các bệnh nhân bị bệnh dạ dày tại bệnh viện 103, viện Bạch Mai, Viện Y Học Cổ Truyền…và đưa ra kết luận sau:

+ Chè dây có khả năng tiêu diệt là làm sạch xoắn khuẩn HP (Helicobarter Pylori) – đây là loại vi khuẩn chuyên gây ra hơn 90% bệnh lý viêm loét dạ dày mãn tính hiện nay.

+ Kháng viêm và làm giảm đau nhanh: thành phần của chè dây giúp trung hòa nhanh lượng acid trong dạ dày, do đó có khả năng làm giảm đau tốt, chỉ sau 8-9 ngày sử dụng chè dây là cơn đau dạ dày sẽ hoàn toàn biến mất.

+ Liền sẹo nhanh: không chỉ giảm đau mà uống nước chè dây mỗi ngày sẽ giúp các vết thương, vết loét trong thành dạ dày mau chóng lành lại mà không để lại sẹo.

+ Làm mát gan: cây có tính mát nên giúp làm mát gan tốt, trị nóng gan, hết mụn nhọt và ngứa ngáy, thanh lọc cơ thể, được sử dụng như thức uống giải khát.

+ An thần: Hoạt chất flavonoid của cây chè dây giúp gan giải độc mạnh và an thần, người bệnh thấy ngủ ngon và ngủ sâu giấc hơn, ăn uống nhiều hơn và thấy ngon miệng hơn.